Điện mặt trời KCN
Nếu như trước đây việc đầu tư nguồn điện được cho là mất nhiều thời gian và tốn kém thì ngày nay các doanh nghiệp hay thậm chí là hộ gia đình đều có thể tự tạo ra nguồn điện cho riêng mình.
Tại các khu công nghiệp, điện năng là đầu vào quan trọng của hoạt động sản xuất. Khi nhu cầu điện tăng, việc khai thác hiệu quả nguồn năng lượng tại chỗ trở thành một trong những giải pháp được doanh nghiệp quan tâm. Điện mặt trời mái nhà, với khả năng tận dụng diện tích mái nhà xưởng sẵn có, đang từng bước được triển khai tại nhiều cơ sở sản xuất ở miền Bắc.
Tại Thái Nguyên, địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 1.070 MW điện mặt trời mái nhà, trong đó phần lớn công suất tập trung tại khu vực sản xuất công nghiệp. Định hướng này cho thấy vai trò của điện mặt trời mái nhà trong khai thác nguồn năng lượng tại chỗ, đồng thời đặt ra yêu cầu phối hợp giữa cơ quan quản lý, ngành điện và doanh nghiệp để đưa các dự án vào thực tế.
Ông Ninh Vân Phong, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Thái Nguyên, cho biết một trong những giải pháp được đơn vị triển khai là phát triển điện mặt trời tại trụ sở công ty. Trong năm 2026, đơn vị dự kiến phát triển khoảng 1.000 khách hàng lắp đặt điện mặt trời mái nhà.
Ông Ninh Vân Phong, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Thái Nguyên
Về phía cơ quan quản lý, ông Phan Bá Trường, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên, cho biết địa phương phối hợp với ngành điện tuyên truyền, khảo sát, hỗ trợ doanh nghiệp tìm giải pháp lắp đặt điện mặt trời và hệ thống lưu trữ, hướng tới thúc đẩy chuyển dịch năng lượng.
Sự phối hợp này có ý nghĩa ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư. Doanh nghiệp cần được hướng dẫn về thủ tục, điều kiện kỹ thuật và phương án đấu nối; trong khi việc phát triển nguồn điện phải phù hợp với đặc điểm phụ tải và khả năng tiếp nhận của lưới điện tại từng khu vực.
Tại Công ty Cổ phần Prime Phổ Yên, hệ thống điện mặt trời mái nhà có công suất 1,8 MWp đã được đưa vào vận hành từ năm 2025. Theo doanh nghiệp, hệ thống giúp tiết kiệm khoảng 200 triệu đồng tiền điện mỗi tháng, đồng thời góp phần giảm phát thải và đáp ứng yêu cầu sản xuất xanh.
Ông Hoàng Việt Hưng, Trưởng phòng Dịch vụ, Công ty Cổ phần Prime Phổ Yên, cho biết dù điều kiện thời tiết miền Bắc không thuận lợi bằng một số khu vực khác, hệ thống vẫn mang lại hiệu quả. Trong những tháng hè, khi nhu cầu điện của nhà máy tăng cao, hệ thống phát huy công suất, góp phần giảm lượng điện phải mua từ lưới điện.
Thực tế tại Prime Phổ Yên cho thấy hiệu quả của điện mặt trời mái nhà gắn chặt với đặc điểm sử dụng điện của từng cơ sở. Với doanh nghiệp có nhu cầu phụ tải vào ban ngày, nguồn điện được tạo ra tại mái nhà có thể đáp ứng một phần nhu cầu vận hành, qua đó góp phần giảm chi phí điện năng.
Tại Khu công nghiệp Sông Công, Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công (DISOCO) cũng triển khai hệ thống điện mặt trời mái nhà giai đoạn 1 từ tháng 3/2026. Hệ thống có công suất thiết kế 1,9 MWp, được lắp đặt trên diện tích khoảng 24.972 m² mái nhà xưởng.
Theo ông Vũ Xuân Thoàn, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công, doanh nghiệp xác định sử dụng điện mặt trời là một giải pháp quan trọng trong chiến lược sử dụng năng lượng và dự kiến tiếp tục triển khai giai đoạn tiếp theo, trên cơ sở phối hợp với các cơ quan quản lý và ngành điện.
Ông Vũ Xuân Thoàn, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Diesel Sông Công
Từ những trường hợp cụ thể này, điện mặt trời mái nhà đang cho thấy khả năng kết hợp mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp với định hướng sử dụng năng lượng hiệu quả. Tuy nhiên, để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài, việc đầu tư cần được tính toán trên cơ sở nhu cầu phụ tải, khả năng tự sử dụng nguồn điện, chi phí đầu tư và các yêu cầu kỹ thuật liên quan.
Từ nhu cầu thực tế tại các địa phương, EVNNPC đã giao chỉ tiêu phát triển điện mặt trời mái nhà đến các công ty điện lực, đồng thời gắn kết quả thực hiện với trách nhiệm của các cấp quản lý.
Tại các địa phương, tinh thần chỉ đạo của Trung ương đã nhanh chóng chuyển hóa thành các kế hoạch hành động cụ thể. Đơn cử như tại tỉnh Thanh Hóa - một trong những địa phương tiên phong ở khu vực phía bắc.
Ông Mai Xuân Liêm, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về nhu cầu sử dụng điện, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt, góp phần giảm phụ tải và nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện, giảm áp lực đầu tư nguồn điện mới - trong khi những nguồn điện chính, nguồn điện công suất lớn như điện khí chưa thể triển khai ngay trong thời gian ngắn. Đối với hộ gia đình, điện mặt trời mái nhà nâng cao hiệu quả tiết kiệm ngân sách gia đình. Thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục tuyên truyền và tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ tục để đông đảo nhân dân hưởng ứng triển khai.
Trong 9 tháng năm 2026, Tổng công ty ghi nhận 16.151 khách hàng phát triển điện mặt trời mái nhà phục vụ tự sản xuất, tự tiêu thụ, với tổng công suất khoảng 709,4 MW. Theo số liệu kế hoạch năm 2026, mức công suất này tương đương khoảng 104% mục tiêu 680 MW.
Kết quả cho thấy điện mặt trời mái nhà đang được thúc đẩy từ cấp Tổng công ty đến từng đơn vị trực tiếp làm việc với khách hàng. Bên cạnh giao chỉ tiêu, EVNNPC ghi nhận sự phối hợp tích cực của một số địa phương trong hướng dẫn, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp triển khai hệ thống.
Theo ông Đỗ Văn Năm, thành viên HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), ở miền Bắc có hàng triệu m2 mái nhà của các khu công nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ mái nhà xưởng được lắp đặt điện mặt trời tự sản, tự tiêu vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Điều này cũng tương tự với các hộ gia đình.
Ông cho rằng điện mặt trời là nguồn điện xanh, sạch hợp lý của miền Bắc. Bởi vào các tháng nắng nóng, bức xạ mặt trời ở miền Bắc rất lớn, có thể phát huy hiệu quả trong việc bổ sung nguồn điện tại chỗ cho miền Bắc vào mùa nắng nóng.
Nếu điện mặt trời mái nhà bổ sung nguồn điện tại chỗ, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) mở ra khả năng điều chỉnh thời điểm sử dụng nguồn điện, hỗ trợ hệ thống ứng phó với biến động phụ tải.
Theo số liệu của EVNNPC, công suất cực đại năm 2026 đã đạt 21.142 MW vào 22 giờ 30 phút ngày 24/6, tăng khoảng 11,4% so với năm 2025. Tổng công ty dự báo công suất cực đại năm 2027 có thể đạt khoảng 23.500–23.800 MW, tăng 12–12,5%.
Những con số này cho thấy áp lực đối với hệ thống điện miền Bắc không chỉ nằm ở việc đáp ứng tổng nhu cầu điện, mà còn ở khả năng đáp ứng phụ tải vào những thời điểm nhất định. Trong khi việc đầu tư nguồn điện và lưới điện cần thời gian chuẩn bị, hệ thống vẫn phải vận hành an toàn trước những biến động của nhu cầu sử dụng điện.
Về nguyên lý hệ thống pin lưu trữ năng lượng BESS tích trữ điện năng trong một khoảng thời gian, sau đó phát trở lại khi hệ thống cần. Khi sạc, hệ thống tiêu thụ điện; khi xả, hệ thống có thể cung cấp điện trở lại. Nhờ đó, BESS có khả năng hỗ trợ điều chỉnh phụ tải, giảm công suất đỉnh và tăng tính linh hoạt trong vận hành.
Theo ông Lại Việt Anh, Trưởng phòng Điều độ, Công ty Điện lực Bắc Ninh “Đặc tính sạc và xả của BESS giúp hỗ trợ ổn định tần số, điều chỉnh điện áp, giảm công suất phụ tải vào giờ cao điểm và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.”
Thực tế tại Bắc Ninh cho thấy vai trò này trong những thời điểm phụ tải tăng cao. Trong đợt nắng nóng tháng 8/2026, công suất sử dụng điện tại địa phương có thời điểm lên khoảng 3.229 MW. Công ty Điện lực Bắc Ninh đã huy động khoảng 30 MW từ BESS để hỗ trợ lưới điện.
Việc huy động nguồn lưu trữ trong tình huống phụ tải cao cho thấy BESS không chỉ là một thiết bị tích trữ điện, mà còn có thể trở thành công cụ hỗ trợ vận hành hệ thống. Hiệu quả cụ thể phụ thuộc vào công suất, dung lượng lưu trữ, thời gian sạc - xả và phương thức điều khiển phù hợp với nhu cầu thực tế.
Đặc biệt, khi điện mặt trời mái nhà phát triển, khả năng lưu trữ và dịch chuyển thời điểm sử dụng điện có thể giúp tăng tính linh hoạt trong khai thác nguồn điện.
Phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng đã được đặt ra trong định hướng quy hoạch điện quốc gia. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh xác định nhu cầu phát triển các nguồn lưu trữ, trong đó có pin lưu trữ, nhằm hỗ trợ vận hành hệ thống và tăng khả năng tích hợp năng lượng tái tạo.
Trong định hướng này, pin lưu trữ được xem xét kết hợp với các nguồn năng lượng tái tạo và bố trí gần trung tâm nguồn điện hoặc trung tâm phụ tải. Điều đó cho thấy lưu trữ năng lượng đang trở thành một cấu phần cần được tính toán cùng với phát triển nguồn và lưới điện.
Tại miền Bắc, EVNNPC đã xây dựng chương trình BESS với tổng quy mô 530 MW/1.060 MWh, triển khai theo ba giai đoạn.
Giai đoạn 1 có quy mô 305 MW/610 MWh tại 47 trạm biến áp thuộc 8 công ty điện lực. Giai đoạn 2 dự kiến triển khai 140 MW/280 MWh tại 23 trạm; giai đoạn 3 có quy mô 85 MW/170 MWh tại 13 trạm.
Việc lựa chọn vị trí triển khai được gắn với điều kiện mặt bằng, mức độ phụ tải, công suất cực đại và nhu cầu giảm đỉnh tại từng khu vực. Cách tiếp cận này nhằm đưa hệ thống lưu trữ vào những vị trí có nhu cầu hỗ trợ vận hành cụ thể, thay vì chỉ phát triển theo quy mô thiết bị.
Tính đến tháng 9 năm 2026, giai đoạn 1 đã đóng điện vận hành tại 24 trong tổng số 47 trạm biến áp 110 kV dự kiến triển khai; các giai đoạn tiếp theo đang được thực hiện theo kế hoạch.
Tại trạm biến áp 110 kV Song Khê, Bắc Ninh, hệ thống pin lưu trữ năng lượng BESS được đưa vào vận hành từ tháng 5/2026. Đây là một trong những điểm triển khai đáng chú ý, đưa công nghệ lưu trữ năng lượng vào thực tiễn quản lý, vận hành lưới điện tại miền Bắc.
Ông Đặng Hồng Sơn, Phó Giám đốc Ban Quản lý xây dựng Điện miền Bắc
Theo ông Đặng Hồng Sơn, Phó Giám đốc Ban Quản lý xây dựng Điện miền Bắc “BESS có mức độ tự động hóa cao, giúp giảm nhiều thao tác trực tiếp nhưng không thay thế vai trò của nhân viên vận hành. Thay vào đó, yêu cầu đối với con người chuyển từ thực hiện thao tác thủ công sang làm chủ công nghệ, giám sát trạng thái hệ thống và xử lý kịp thời các cảnh báo bất thường.”
Vì vậy, quá trình triển khai đòi hỏi sự chuẩn bị chặt chẽ từ khảo sát, thiết kế, lựa chọn công nghệ đến lắp đặt, đấu nối, thử nghiệm và nghiệm thu. Các yêu cầu về tiến độ phải đi cùng tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn.
Với lực lượng trực tiếp quản lý, vận hành, BESS cũng đặt ra yêu cầu tiếp cận phương thức làm việc mới.
Theo ông Nguyễn Văn Dương, Tổ trưởng Tổ thao tác lưu động Yên Phong, Công ty Điện lực Bắc Ninh “Đơn vị đã tổ chức đào tạo lý thuyết tập trung và thực hành tại hiện trường để nâng cao khả năng vận hành hệ thống BESS cho cán bộ, công nhân viên."
Trong giai đoạn đầu tiếp cận công nghệ, cán bộ vừa vận hành, vừa được đào tạo, nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm; khi phát sinh vấn đề kỹ thuật, đơn vị quản lý có thể phải phối hợp với nhà thầu, nhà cung cấp và chuyên gia để xử lý. Thách thức lớn nhất không nằm ở thao tác thiết bị mà ở khả năng nắm bắt công nghệ, hiểu đúng các thông số và phản ứng kịp thời trước những dấu hiệu bất thường. Vì vậy, cùng với đầu tư thiết bị, đào tạo nhân lực và hoàn thiện quy trình là điều kiện quan trọng để các hệ thống BESS được vận hành an toàn, hiệu quả.