Năm 2025, Việt Nam có 144.345 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, vượt 11% kế hoạch năm. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, có 66.311 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, đạt 59,2% kế hoạch cả năm là 112.000 người.
Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc tiếp tục là những thị trường lớn nhất. Trong đó, khoảng 470.000 lao động Việt Nam làm việc tại Nhật Bản; gần 300.000 lao động Việt Nam làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc) và khoảng 100.000 lao động Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc. Những con số ấy cho thấy lao động đi làm việc ở nước ngoài không chỉ là một kênh giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập. Quan trọng hơn, đây đang trở thành một kênh đào tạo nguồn nhân lực thông qua thực tiễn sản xuất, công nghệ và quản trị hiện đại.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra cần có nền tảng kết nối để những kỹ năng, ngoại ngữ, kinh nghiệm và tác phong mà người lao động tích lũy được ở nước ngoài được sử dụng hiệu quả khi trở về.
Từng đi làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS, anh Nguyễn Văn Toàn – tỉnh Bắc Ninh đã tích lũy được kinh nghiệm trong môi trường làm việc kỷ luật, đồng thời sử dụng được tiếng Hàn. Trở về nước đã nhiều năm, anh tiếp tục làm việc cho một doanh nghiệp Hàn Quốc. Nhưng điều anh mong muốn hiện nay là tìm được một công việc phù hợp hơn với những gì mình đã tích lũy, tại khu vực gần nhà, đặc biệt là các khu công nghiệp ở Bắc Ninh.
“Tôi muốn tìm một công việc phù hợp với kinh nghiệm đã có, có thể làm phiên dịch kết hợp quản lý. Sau nhiều năm làm việc ở nước ngoài, tôi mong muốn vừa phát huy được kỹ năng của mình, vừa được làm việc gần gia đình”, anh Toàn chia sẻ.
Đây cũng là nhu cầu đang xuất hiện ngày càng rõ ở nhóm lao động hoàn thành hợp đồng trở về nước. Họ không còn trở về với xuất phát điểm như trước khi đi. Bên cạnh khoản vốn tích lũy, nhiều người có thêm ngoại ngữ, chứng chỉ nghề, kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm làm việc trong môi trường sản xuất hiện đại.
Tại Hà Nội, một phiên giao dịch việc làm dành riêng cho lao động từng làm việc tại Hàn Quốc và Nhật Bản đã thu hút 54 doanh nghiệp với gần 1.900 vị trí tuyển dụng, trong đó có các vị trí kỹ thuật, phiên dịch, quản lý sản xuất, nhân viên văn phòng; một số vị trí quản lý có mức thu nhập cao từ 30 - 40 triệu đồng/tháng. Tại Bắc Ninh, ngày hội việc làm dành cho lao động từng làm việc tại Hàn Quốc và Nhật Bản cũng thu hút hàng chục doanh nghiệp có vốn đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản với hàng nghìn vị trí trong các lĩnh vực điện tử, cơ khí, chế biến, logistics.
Người lao động từng làm việc tại Hàn Quốc, Nhật Bản
tham gia phiên giao dịch việc làm, tìm kiếm cơ hội phù hợp sau khi về nước.Thực tế từ phía doanh nghiệp cho thấy rất cần những lao động có kinh nghiệm và kỹ năng lành nghề. Đại diện phụ trách nhân sự của Công ty TNHH Enshu Việt Nam cho biết: “Những người từng làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc thường đã trải qua môi trường làm việc kỷ luật, có kinh nghiệm thực tế và khả năng ngoại ngữ. Nếu được kết nối đúng với vị trí phù hợp, họ có thể nhanh chóng tiếp cận công việc và phát huy kinh nghiệm đã tích lũy”.
Tuy nhiên vấn đề không hẳn nằm ở thiếu việc làm hay thiếu lao động có kỹ năng, mà ở khoảng trống kết nối giữa doanh nghiệp và người lao động.
Qua thực tế khảo sát, ông Nguyễn Tuấn Anh - Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước - Bộ Nội vụ cho biết, có một bộ phận đáng kể lao động sau khi về nước mong muốn được làm việc gần gia đình, đồng thời tiếp tục phát huy tay nghề, kinh nghiệm và ngoại ngữ đã tích lũy. Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI trong nước, nhất là tại những địa bàn tập trung nhiều khu công nghiệp, cũng có nhu cầu tuyển dụng nhân lực đã từng làm việc trong môi trường quốc tế.
Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy bằng một cơ chế kết nối bài bản. Quỹ đang nghiên cứu đề án, trước mắt khảo sát nhu cầu của người lao động về nước, từ mong muốn về địa điểm làm việc, mức thu nhập đến ngành nghề, kỹ năng; đồng thời khảo sát nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp FDI để kết nối cung - cầu.
Theo định hướng này, Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước sẽ phối hợp với hệ thống sàn giao dịch việc làm của Bộ Nội vụ, và doanh nghiệp để tạo thành một mạng lưới kết nối trực tiếp. Trước mắt, các địa bàn như Bắc Ninh, Thái Nguyên, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp FDI và có đông lao động từng làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) trở về, được xác định là những khu vực có thể triển khai thí điểm. Trên cơ sở đó, mô hình sẽ được xây dựng, nhân rộng và triển khai trên toàn quốc.
Cùng với đó, Cục Quản lý lao động ngoài nước đang nâng cấp cơ sở dữ liệu người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Theo ông Vũ Trường Giang - Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, cơ sở dữ liệu được xây dựng và vận hành từ năm 2015, hiện quản lý thông tin của hơn 500 doanh nghiệp và khoảng 1 triệu lao động. Định hướng tiếp theo là kết nối dữ liệu này với dữ liệu của Cục Việc làm, các trung tâm dịch vụ việc làm và từng bước kết nối với hệ thống tuyển dụng của doanh nghiệp trong nước.
Nếu làm được điều đó, việc kết nối có thể bắt đầu ngay cả trước khi người lao động về nước: doanh nghiệp biết người lao động có kỹ năng gì, từng làm việc ở đâu, có ngoại ngữ, kinh nghiệm ở vị trí nào; còn người lao động biết thị trường trong nước đang cần gì và đâu là công việc phù hợp với mình.
Ông Vũ Trường Giang, Phó Cục trưởng
Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Nội vụ
Một nền tảng kết nối việc làm nếu được xây dựng trên cơ sở dữ liệu đủ tin cậy, cập nhật và liên thông giữa người lao động - cơ quan quản lý - trung tâm dịch vụ việc làm - doanh nghiệp sẽ không chỉ giúp một người tìm được việc. Về lâu dài, đó là cách chuyển hóa vốn kỹ năng được tích lũy ở nước ngoài thành năng suất trong nước.
Đây cũng là tinh thần của định hướng mới trong chính sách về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài: đi làm việc ở nước ngoài phải gắn với phát triển nguồn nhân lực, và khi trở về, kỹ năng, vốn, ngoại ngữ, tác phong tích lũy được phải được công nhận, sử dụng và lan tỏa, không để lãng phí.